Ngũ Công Vương Phật .  Ảnh Thờ 25x32cm

Ngũ Công Vương Phật . Ảnh Thờ 25x32cm

Vui lòng gọi...

Đặt mua

 

Đức Thánh Trần trong tranh thờ dân gian.

Vị Thánh – Tướng 


Nam Canh Thân , Canh Tuất . thờ Phật A Di Đà . Nữ thờ Chúa Tiên Nương độ mạng
Nam Tân Mùi Thờ Phật Thích Ca Mâu Ni độ mạng. Nữ thờ Chúa Tiên
Nam Canh Tý, Canh Dần , Canh Thìn, Canh Ngọ. Tân Sửu , Tân Mạo, Tân Tỵ  Tân Dậu , Tân Hợi thờ Trần Hưng Đạo 
độ mạng . con Nữ thờ Chúa Tiên Nương Nương độ mạng.  

Nam   Mậu Ngọ Kỷ Mùi thờ Ngũ Công Vương Phật độ mạng  .       Nữ thờ Quan Âm Đại Thế Chí độ mạng. 
Nam Mậu Thìn Mậu Thân Kỷ Tỵ thờ Ngũ Công Vương Phật ,       Nữ thờ Phổ Hiền Bồ Tát
Nam Mậu Tý , Mậu Tuất, Mậu Dần , Kỷ Sửu ,  Kỷ Dậu, Kỷ Hợi thờ Ngũ Công Vương Phật độ mạng  .
  Nữ thờ Quan Âm Bồ Tát độ mạng
Nam Kỷ Mạo Thờ Ngũ Công Vương Phật độ mạng .    
    Nữ thờ Chúa Tiên Nương Nương đô mạng

 

 

TỪ TRẦN HƯNG ĐẠO ĐẾN ĐỨC THÁNH TRẦN TRONG ĐẠO MẪU

Sau khi đại phá quân Nguyên, Mông (1258 – 1288), Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn được dân chúng khắp nơi coi như vị thánh giúp dân thoát kiếp lầm than. Nhưng tại sao Đức Thánh Trần lại gia nhập vào hàng Tứ Phủ trong Đạo Mẫu? Đó là vấn đề được người dân và cả giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm. 

Trong hệ thống biểu tượng tâm linh Việt, không ít nhân vật có thật được dân chúng huyền thoại hóa, tôn làm thánh và trở thành đấng quyền năng siêu việt, có ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt và tâm linh của mỗi người. Trong số đó, Đức Thánh Trần (Trần Quốc Tuấn) là nhân vật đã gia nhập Tứ Phủ và trở thành chư vị thần thánh giúp dân thoát khổ, thoát nạn.

Đến nay, giới nghiên cứu văn hóa vẫn chưa tìm ra được dấu mốc thời gian cụ thể trong việc gia nhập Đạo Mẫu của vị tướng thời nhà Trần. Trong sách “Đạo Mẫu Việt Nam”, tập I, GS Ngô Đức Thịnh chủ biên có nói: “Trong đạo Mẫu Tứ Phủ đây đó người ta còn nhắc tới Phủ Trần Triều, một phủ thuần tuý mang tính chất nhân Thần. Bởi thế cần xem xét Đức Thánh Trần cùng với các thuộc hạ của Ông trong hệ thống điện thần Tứ Phủ cũng như trong thực hành tín ngưỡng”. Như vậy, việc chỉ ra thời gian cụ thể khi Đức Thánh Trần đi vào Đạo Mẫu là chưa chắc chắn. Tuy nhiên, có người cho rằng không nên đặt ra vấn đề như trên. Bởi lẽ việc thần thánh hóa một nhân vật lịch sử phải trải qua thời gian nhất định. Có thể nhân vật lịch sử đó được nhân dân yêu quý, người này nói tốt, người kia nói tốt... thì tự trong tâm tưởng người dân đã coi nhân vật đó như một vị thần rồi. Cái sự yêu quý ấy cứ ngày một lan ra, thấm sâu vào quần chúng và dần dần, người ta lập đền thờ ở nhiều nơi. Nơi thờ chính, nơi thờ vọng... Cứ như thế Trần Quốc Tuấn đã đi vào đạo Mẫu Tứ Phủ một cách tự nhiên nhất, hợp lòng người nhất.

Theo truyền thuyết về Đức Thánh Trần thì ông là con của Đức Long vương Bát Hải Đại Vương cai quản vùng sông nước. Do dân chúng gặp kiếp nạn mà đầu thai vào Trần Quốc Tuấn để cứu dân khỏi nạn giặc ngoại xâm, giết người, cướp của.

 Đức Thánh Trần “được đặt riêng một phủ Trần Triều. Về hàng bậc, ông được Vua Trần phong là THƯỢNG PHỤ QUỐC CÔNG TIẾT CHÊ HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG còn cao hơn cả cha Vua, có lúc Ông được đồng nhất với Vua Cha trong đối sánh với Thần Mẹ, ngày giỗ và lễ hội kèm theo của Ông cũng đồng nhất với ngày giỗ Cha "tháng Tám giỗ Cha" cùng với Bát Hải Đại Vương. Nơi thờ Ông ở Kiếp Bạc, có ngọn núi xèo rộng ra ôm lấy thung lũng trước mặt ngôi đền là núi Nam Tào và Bắc Đẩu. Như vậy trong tâm thức dân gian, nghiễm nhiên Ông được coi như là Ngọc Hoàng, một Vua Cha cao hơn, bên trên cả Thánh Mẫu. Tuy nhiên, không giống như Vua Cha Ngọc Hoàng hay Vua Cha Bát Hải, các vị chỉ ngự trên điện thần chứ không giáng đồng, các Thánh hàng Mẫu cũng chỉ giáng chứ không nhập đồng, còn Đức Thánh Trần và một số thuộc hạ của Ông thì lại giáng đồng chuyên để trừ tà, cứu chữa con bệnh, tạo nên hẳn một dòng Thanh đồng phân khác với hình thức hầu đồng của dòng đồng cốt thờ Mẫu. Trong thứ tự giáng đồng của những người có căn Trần Triều thì thường là sau khi Mẫu giáng, và trước các vị Thánh hàng Quan. Đấy là chưa kể hình thức lên đồng để trừ tà thường diễn ra trong dịp lễ tiết của Đức Thánh Trần ở những nơi thờ tự chính của Ông” – theo sách “Đạo Mẫu Việt Nam”.

Đức Thánh Trần trở thành đạo sĩ?

Việc Đức Thánh Trần được người dân đặt vai trò như một đạo sĩ đã gây ra sự khó hiểu trong cộng đồng. Bởi ông xuất thân từ một gia đình danh gia vọng tộc, thân làm tướng, thống lĩnh ba quân, đánh Đông, dẹp Bắc, phong thái uy nghi và chỉ tương xứng với những việc cao quý, hợp với đấng quân vương. Còn công việc xua đuổi ma tà, quỷ quái thuộc về các đạo sĩ, những nhân vật thường có thân phận thấp bé trong xã hội. Nhưng ở đây, Đức Thánh Trần lại đóng vai của một bậc hạ lưu. Tại sao vậy?

Trước đây, cố GS Trần Quốc Vượng đã nghiên cứu và chỉ ra rằng: “Thời nhà Trần, bên cạnh đạo Phật, Đạo giáo khá thịnh hành, nhiều người thuộc giới quý tộc, hoàng thân cũng là những đạo sĩ, tín đồ đạo giáo, trong đó có Trần Hưng Đạo. Từ sau khi chiến thắng giặc Nguyên, Mông, được phong vương, Ông quay trở về sống ở Kiếp Bạc, vui thú với cảnh sắc thiên thiên, làm thuốc chữa bệnh cứu người. Huyền thoại về việc Ông dùng ma thuật để trừ tà Phạm Nhan chỉ là sự lịch sử hóa, huyền thoại hóa một thực tế Ông là một thầy thuốc có tài chữa bệnh hậu sản, bệnh của phụ nữ. Với lại, trong dân gian, việc chữa bệnh bằng thuốc luôn đi liền với các hành động có tính ma thuật. Bởi vậy, sau khi Trần Hưng Đạo qua đời, danh tiếng và uy tín của Ông đã được huyền thoại hóa, khoác ra ngoài cái vỏ tín ngưỡng và lưu truyền mãi về sau, cho tận tới ngày nay”.

Không những thế, cố GS Trần Quốc Vượng còn giải mã luôn những điều kỳ lạ khi đặt Đức Thánh Trần ngang hàng với vua cha là Bát Hải Đại Vương. Đó là bởi cuộc đời của Trần Quốc Tuấn gắn liền với những chiến công oanh liệt ở sông nước, ba lần đánh tan giặc Nguyên Mông thu phục giang sơn về một mối... Cho nên, người dân coi ông như một vị thần cai quản miền sông nước là điều dễ hiểu.

Theo các nhà nghiên cứu Văn hóa thì Đức Thánh Trần hiện đang được nhân dân tứ phương phụng thờ dưới 3 hình thức hoàn toàn khác nhau. Hình thức thứ nhất, người dân thờ Trần Quốc Tuấn với vai trò là một anh hùng dân tộc, người đã góp công lớn vào sự kiện 3 lần đánh thắng quân Nguyên Mông, bảo vệ lãnh thổ Quốc gia. Hình thức thứ hai là người dân coi Trần Quốc Tuấn như vị vua cha, ngang hàng với Bát Hải Đại Vương. Cách phân biệt hai hình thức này dựa vào điện thờ. Hình thức thứ nhất thì ngoài điện thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn ra không có điện thờ Mẫu và điện thần thờ Mẫu. Hình thức thứ hai thì ngược lại.    Hình thức thứ 3 là thờ Ông là vị Thần Độ Mạng cho tuổi Nam có can là Canh và Tân . Còn tuổi Nam can Mậu và Kỷ thì thờ ông trong bộ NGỦ CÔNG VƯƠNG PHẬT.Gồm Trần Hưng Đạo, Tản Viên Sơn Thánh, Tiên Ông Chử Đồng Tử, Phù Đổng Thiên Vương Thánh Gióng và Liểu Hạnh Công Chúa

 

 
Trần Hưng Đạo là vị tướng tài đức lỗi lạc:
 
- Là tướng nhân, thương quân và dân như ruột thịt.
- Là tướng nghĩa, vì nghĩa nước mà quên thù nhà.
- Là tướng trí, Vương có kế sách đánh đuổi quân Nguyên xâm lăng Đại Việt. Ông thấy rõ nếu ngành trưởng (Trần Liễu, Trần Quốc Tuấn) và ngành thứ (Trần Cảnh, Trần Quang Khải) mà bất hòa, thì kẻ có lợi là quân thù, nên Ông đã chủ động giao hảo hòa hiếu với Trần Quang Khải, tạo nên sự thống nhất ý chí vương triều nhà Trần, nhờ vậy mới đánh đuổi được quân Nguyên rất hung hãn. Ông sáng suốt đề cử hiền tài ra giúp nước, không phân biệt thành phần xã hội, nên những vị ấy đã hăng hái góp sức rất lớn trong việc đánh đuổi quân Nguyên, như: Dã Tượng, Yết Kiêu, Phạm Ngũ Lão. Người có tội đang bị phạt, mà có tài như Trần Khánh Dư, cũng được Vương xin vua xá tội, để hợp sức chống giặc. Ông luôn hộ giá vua, tay chống gậy đầu bịt sắt, người ta xầm xì sợ Ông giết vua, Ông cho tháo bỏ phần bịt sắt ở đầu gậy, để tránh hiềm nghi, nên vua quan, quân dân đều yên lòng và kính trọng Ông hơn.
- Là tướng tín, Ông luôn giữ lời hứa và thưởng phạt nghiêm minh, chỉ bảo điều hay lẽ phải cho tướng sĩ biết, như hịch Tướng sĩ...
Trần Hưng Đạo là vị tướng phi thường, Ông soạn cuốn “Binh thư yếu lược” và “Vạn Kiếp bí truyền thư” để chỉ dẫn cho các thuộc tướng cầm quân đánh giặc. Ông còn viết “Hịch tướng sĩ” để truyền dạy tướng sĩ biết thế nào là nhục nhã nếu giống nòi bị ngoại xâm cai trị, khích lệ lòng can trường để đánh đuổi quân Nguyên đang xâm lược nước ta. Lời lẽ hào hùng, ai nghe xong lòng cũng cảm kích và sôi sục, từ đó khẳng định văn chương của Hưng Đạo Vương là một bậc đại bút.
Khi Ông sắp mất, vua Trần Anh Tông đến thăm và hỏi: “Nếu chẳng may ông mất, rồi giặc phương Bắc lại sang xâm lấn Đại Việt, thì ta phải dùng kế sách gì”. Vương trăng trối lời tâm huyết sâu sắc mà những người đang lèo lái quốc gia nên nghiền ngẫm: “Quân địch ào ạt tràn đến như lửa, như gió, thế ấy dễ trị. Nếu chúng dùng chước như tằm ăn lá dâu, không cần mau thắng, không cướp bóc của dân, thì phải lựa lương Tướng, như đánh cờ vậy, cốt Binh và Tướng phải như cha con. Thời bình phải khoan thư sức dân, vun bồi đất nước, là phương sách sâu gốc bền rễ, đấy là thượng sách để giữ nước”. Đại Vương căn dặn trước khi mất: “Thi hài hỏa táng chôn trong vườn An Lạc, gần cánh rừng An Sinh, không xây lăng mộ, lấp đất bằng phẳng, rồi trồng cây như cũ”. ông mất ngày 20-8 năm Canh tý (5-9-1300), ai ai cũng tiếc thương. Triều đình cho lập đền thờ ở Kiếp Bạc, huyện Chí Linh, Hải Dương. Dân chúng tôn kính gọi: Hưng Đạo Vương, Hưng Đạo Đại Vương, Đức Thánh Trần, đây là điều đặc biệt trong lịch sử. Ngày lễ chính thức tổ chức vào ngày ông mất là ngày 20 tháng 8 ÂL.
 
Hưng Đạo Vương là danh nhân quân sự thế giới; vào năm 1984 tại London (Anh quốc) trong cuộc họp bình chọn 10 người tài xuất sắc (top ten) bầu chọn 10 nhà quân sự lỗi lạc và 10 nhà bác học giỏi nhất thế giới, Hoàng gia Anh làm chủ trì. Hưng Đạo Vương được chọn là một trong 10 vị Đại Nguyên soái quân sự lỗi lạc nhất thế giới.
 
*- Thiết nghĩ: Quân Mông Cổ, đầu thế kỷ thứ XIII, Hồi quốc là đế quốc gồm Ba Tư, Tiểu Á Tế Á, bề ngang kéo dài từ Ấn Độ đến Bagdad; quân Mông Cổ đánh phá 40 vạn binh của Mohamed tan tành và kinh đô cũng thành tro bụi. Tháng 12-1237 tới tháng 5-1238, Mông Cổ chiếm 4/5 nước Nga. Các quốc gia Tây Âu lo sợ. Giáo hoàng Innocent IV và vua Louis nước Pháp cử người cầu hòa với Mông Cổ. Tại Á Đông, vào năm 1226, Tây Hạ đầu hàng và bị sáp nhập vào đế quốc Mông Cổ. Nhưng tại Việt Nam, vào năm 1285, Trần Hưng Đạo đã thống lãnh 20 vạn quân Đại Việt đánh tan tác 50 vạn quân Nguyên xâm lược nước ta.
 

 

                       CHẦU VĂN ĐỨC THÁNH TRẦN

 Công cứu quốc cao dày đã rõ

Ơn chúng sinh tế độ còn dài

Đại vương từ ngự thiên đài

Ngọc hoàng giáng chỉ cứu người dương gian

Ngôi vạn kiếp bốn phương chầu lại

Đức uy linh bát hải lan ra

Nam tào bắc đẩu hai tòa

Xa ba thiên tướng hằng hà thiên binh

Việc nội ngoại ngụ dinh tuần thú

Khắp thiên đình địa phủ dương gian

Bên ngai tả hữu hai ban

Kiếm thần cờ lệnh ấn vàng trong tay

Trên ngọc bệ tàn mây ngũ sắc

Trước long đình hổ phục rồng chầu

Thần thông biến hóa phép màu

Nghìn tai nghìn mắt đâu đâu tỏ tường

                    

 

Đạo đức cao bốn phương bái phục

Phép uy linh quỷ khóc thần kinh

Triệt dịch lệ giải đao binh

Phò nguy cứu khố tà tinh tiêu trừ

Suốt nam bắc phụng thờ thành kính

Cả muôn dân cửa thánh đội ân

Tâm thành cầu khấn phép thần

Phút đầu hiện ứng mười phân vẹn mười

Non nước nhược ngự chơi ngày tháng

Chốn non bồng thăng giáng hôm mai

Trần gian bao cửa đền đài

Đăng vân giá vụ khắp nơi đi về

Từ sơn cước suối khe rừng nội

Đèn phồn hoa cát bụi chẳng nề

Một tay che chở phù trì

công ơn tế thế sánh bì trời cao
 
               phongthuygiatrannam.com 

 

Chứ không như các sách khác nói là QUAN BÌNH đỘ mạng  la khong đung vì 
QUAN BÌNH là con của QUAN ĐỊNH khi 18 tuổi được QUAN VŨ nhận đị theo được coi là con nuôi của QUAN  VŨ (QUAN CÔNG) năm 219 tử hoàng đánh chiếm QUAN BÌNH  thất bại khiến QUAN VŨ phải kéo về kinh châu nhưng kinh châu cũng mất nên ở lại Mạch Thành và bị truy sát  nên QUAN BÌNH và QUAN VŨ  trên đường chạy về TÂY XUYÊN bị QUÂN NGÔ  bắt  và hành hình  lúc  này Quan Bình mới 29 tuổi. Vậy trong sự nghiệm QUAN BÌNH chưa làm được gì lớn và còn chết yểu khi tuổi chưa tới 30 ( chưa được hưởng dương)
Như vậy yểu mệnh không có tài cán gì thì làm sao độ mệnh phổ độ người khác được.
Vì chúng ta là người  Việt nên thờ theo phong tục Việt không nên làm theo các sách vô tông của trung quốc phát hành qua  đảo lộn trắng đen và  hiểu nhầm, rồi thờ cúng các vị  độ mệnh sai trái như vậy  là không tốt . 
Người  Trung Quốc luôn quan niệm chỉ lấy vi tướng bất tài ma còn yểu mệnh  ghi lên sách vở lam Thần Độ Mạng , thi người dân Việt Nam sẻ tin và tôn thờ như  vị tướng có công  với đất nước . Đây là âm mưu thâm độc của Trung Quốc từ xa xưa tới giờ  , sao ma người Dân Việt mình cứ tin và làm theo  . Đó là điều sĩ nhục , người dân Việt Nam nên biết thờ  vị tướng tài dân tộc .không nên thờ  kẻ địch yểu mệnh bất tài .

 

Ngủ Công Vương Phật: 

theo phong tục việt nam ngủ công  vương phật gồm :
 
1/ CỬU THIÊN VŨ ĐẾ ĐỨC THÁNH TRẦN HƯNG ĐẠO
2/ ĐỨC TẢN VIÊN SƠN THÁNH 
3/ TIÊN ÔNG CHỮ ĐỒNG TỬ 
4/ THÁNH MẪU BẢO VƯƠNG .[ MẸ PHỦ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG THÁNH GIÓNG ]
5/ LIỄU HẠNH CÔNG CHÚA  

Tứ bất tử  : là tên gọi chung của bốn vị thánh bất tử trong tín ngưỡng Việt Nam, đó là Tản Viên Sơn Thần, Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử, và Liểu Hạnh Công Chúa.

Tản Viên Sơn Thần ,            hay gọi là  Sơn Tinh, là vị thần Núi Tản Viên (Ba Vì), núi tổ của các núi nước Việt Nam. Tản Viên tượng trưng cho ước vọng chinh phục tự nhiên, chiến thắng thiên tai

Phù Đổng Thiên Vương.   hay còn gọi Thánh Gióng, tượng trưng cho tinh thần chống ngoại xâm và sức mạnh tuổi trẻ.

Tiên ÔngChử Đồng Tử   .    còn được gọi là Chử Đạo Tổ, tượng trưng cho tình yêu, hôn nhân, và sự sung túc giàu có.

 Liểu Hạnh Công Chúa., hay Mẫu Thượng ThiênMẫu Liễu Hạnh, tượng trưng cho cuộc sống tinh thần, phúc đức, sự thịnh vượng, văn thơ.

Trong 4 vị trên thì 3 vị nam thần đầu tiên theo truyền thuyết có từ thời Hùng Vương, và đã được thờ ở rất nhiều nơi từ rất lâu. Riêng Mẫu Liễu Hạnh là phụ nữ duy nhất, mới được đưa vào hệ thống thần thánh từ đời Hậu Lê.

Do Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện khá muộn so với 3 vị kia nên có ý kiến cho rằng bên cạnh 4 vị thánh kia, Tứ bất tử trong tín ngưỡng dân tộc Việt còn có 2 vị thánh khác là Đạo Hạnh và Nguyển Minh Không.

Ghi chép

Tài liệu xưa nhất về thuật ngữ Tứ bất tử là bản Dư địa chí, in trong bộ Ức Trai di tập. Nuyển Tông Quai ở thế kỷ XVII là người đầu tiên giải thích thuật ngữ Tứ bất tử, khi ông chú giải điều 32 trong sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi. Lời chú ấy như sau:

Người Nhà Thanh nói: Tản Viên Đại Vương đi từ biển lên núi, Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa bay lên không trung, Đồng tử nhà họ Chử gậy nón lên trời; Ninh Sơn (nay là Sài Sơn) Thánh Mẫu Bảo Vương  . Ướm vào dấu chân lớn để thụ thai . Ấy là An Nam Tứ bất tử vậy.

Kiều Oánh Mậu người làng Đường Lâm là nhà học giả cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, trong lời Án sách Tiên phả dịch lục có viết:

Tên các vị Tứ bất tử của nước ta, người đời Minh cho là: TẢN VIÊN, PHÙ ĐỔNG, CHỮ ĐỒNG TỬ, NGUYỂN MINH KHÔNG. Đúng là như vậy. Vì bấy giờ Tiên chúa (Liễu Hạnh) chưa giáng sinh nên người đời chưa thể lưu truyền, sách vở chưa thể ghi chép. Nay chép tiếp vào.

 Những thông tin về Tứ bất tử trong thư tịch Hán Nôm, hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Các tài liệu tiếng Việt hiện đại về Tứ bất tử thì phong phú hơn và thường khẳng định tứ bất tử gồm: Tản Viên Sơn thần, Phù Đổng Thiên vương, Chử Đồng Tử, và Liễu Hạnh Công chúa. Ví dụ như Nguyễn Tuân (1910-1987), trong thiên truyện Trên đỉnh non Tản in trong tập Vang bóng một

CÁC SẢN PHẨM KHÁC