Trần Hưng Đạo. Nam Can Canh Tân Thờ Trần Hưng Đạo. Nữ Thờ Chúa Tiên Nương Nương .

Trần Hưng Đạo. Nam Can Canh Tân Thờ Trần Hưng Đạo. Nữ Thờ Chúa Tiên Nương Nương .

2.200.000 VND

Đặt mua

Tuổi Nam:
Nam Canh Thân , Canh Tuất . thờ Phật A Di Đà . Nữ thờ Chúa Tiên Nương độ mạng
Nam Tân Mùi Thờ Phật Thích Ca Mâu Ni độ mạng. Nữ thờ Chúa Tiên.

Nam Canh Tý, Canh Dần , Canh Thìn, Canh Ngọ. Tân Sửu , Tân Mạo, Tân Tỵ  Tân Dậu , Tân Hợi

thờ Trần Hưng Đạo độ mạng . con Nữ thờ Chúa Tiên Nương Nương độ mạng.  

 

 

THỜ TRẦN HƯNG ĐẠO  ĐỘ MẠNG

Tản Viên Sơn Thánh  BAN SỨC MẠNH

Phù Đổng Thiên Vương  BAN PHÚC

Chử Đồng Tử    BAN TRÍ TUỆ

Liểu Hạnh Công Chúa   BAN THỌ

 . Nư thơ Chua Tiên Nương Nương đô mang.

 

Đức Thánh Trần trong tranh thờ dân gian.
Vị Thánh – Tướng
 
 
I. CỬU THIÊN VỦ ĐẾ ĐỨC THÁNH TRẦN HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN (1226 - 1300)
 
Trần Quốc Tuấn quê Nam Định, văn võ song toàn, phụ thân là Trần Liễu, khi sắp mất trăng trối: “Con không vì cha lấy thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được”. Do Lý Chiêu Hoàng chưa có con nối dõi, Trần Thủ Độ bắt vợ Trần Liễu có thai 3 tháng về làm vợ Trần Cảnh.
 
Khi vua Trần phong ông chức Tiết Chế (như Nguyên soái), binh quyền trong tay. Ông luôn đặt quyền lợi quốc gia, trên quyền lợi gia đình, quên thù nhà, một lòng sắt son lo quốc gia.
 
Năm 1284, quân Nguyên sắp sửa xâm lăng nước ta lần thứ 2, thế giặc quá mạnh, vua thử hỏi: “Trẫm muốn hàng để tránh binh đao cho muôn dân bá tánh”. Đại Vương thưa: “Nếu bệ hạ muốn hàng, xin chém đầu thần trước đã”. Ông còn chủ trương “Tận dân vi binh” (mỗi người dân là một người lính), ông huy động toàn dân kháng chiến, trên dưới một lòng, cùng chống giặc cứu nước.
 
Năm 1287-1288, quân Mông Cổ xâm lược nước ta lần thứ ba. Dưới lòng sông Bạch Đằng, Vương cho đóng cọc, khi thuỷ triều lên đem quân khiêu chiến, thủy triều xuống, cho quân sĩ đồng loạt phản công, giặc Nguyên đại bại.
 
 
 
Ông là vị tướng tài đức lỗi lạc:
 
- Là tướng nhân, thương quân và dân như ruột thịt.
- Là tướng nghĩa, vì nghĩa nước mà quên thù nhà.
- Là tướng trí, Vương có kế sách đánh đuổi quân Nguyên xâm lăng Đại Việt. Ông thấy rõ nếu ngành trưởng (Trần Liễu, Trần Quốc Tuấn) và ngành thứ (Trần Cảnh, Trần Quang Khải) mà bất hòa, thì kẻ có lợi là quân thù, nên Ông đã chủ động giao hảo hòa hiếu với Trần Quang Khải, tạo nên sự thống nhất ý chí vương triều nhà Trần, nhờ vậy mới đánh đuổi được quân Nguyên rất hung hãn. Ông sáng suốt đề cử hiền tài ra giúp nước, không phân biệt thành phần xã hội, nên những vị ấy đã hăng hái góp sức rất lớn trong việc đánh đuổi quân Nguyên, như: Dã Tượng, Yết Kiêu, Phạm Ngũ Lão. Người có tội đang bị phạt, mà có tài như Trần Khánh Dư, cũng được Vương xin vua xá tội, để hợp sức chống giặc. Ông luôn hộ giá vua, tay chống gậy đầu bịt sắt, người ta xầm xì sợ Ông giết vua, Ông cho tháo bỏ phần bịt sắt ở đầu gậy, để tránh hiềm nghi, nên vua quan, quân dân đều yên lòng và kính trọng Ông hơn.
- Là tướng tín, Ông luôn giữ lời hứa và thưởng phạt nghiêm minh, chỉ bảo điều hay lẽ phải cho tướng sĩ biết, như hịch Tướng sĩ...
Trần Hưng Đạo là vị tướng phi thường, Ông soạn cuốn “Binh thư yếu lược” và “Vạn Kiếp bí truyền thư” để chỉ dẫn cho các thuộc tướng cầm quân đánh giặc. Ông còn viết “Hịch tướng sĩ” để truyền dạy tướng sĩ biết thế nào là nhục nhã nếu giống nòi bị ngoại xâm cai trị, khích lệ lòng can trường để đánh đuổi quân Nguyên đang xâm lược nước ta. Lời lẽ hào hùng, ai nghe xong lòng cũng cảm kích và sôi sục, từ đó khẳng định văn chương của Hưng Đạo Vương là một bậc đại bút.
Khi Ông sắp mất, vua Trần Anh Tông đến thăm và hỏi: “Nếu chẳng may ông mất, rồi giặc phương Bắc lại sang xâm lấn Đại Việt, thì ta phải dùng kế sách gì”. Vương trăng trối lời tâm huyết sâu sắc mà những người đang lèo lái quốc gia nên nghiền ngẫm: “Quân địch ào ạt tràn đến như lửa, như gió, thế ấy dễ trị. Nếu chúng dùng chước như tằm ăn lá dâu, không cần mau thắng, không cướp bóc của dân, thì phải lựa lương Tướng, như đánh cờ vậy, cốt Binh và Tướng phải như cha con. Thời bình phải khoan thư sức dân, vun bồi đất nước, là phương sách sâu gốc bền rễ, đấy là thượng sách để giữ nước”. Đại Vương căn dặn trước khi mất: “Thi hài hỏa táng chôn trong vườn An Lạc, gần cánh rừng An Sinh, không xây lăng mộ, lấp đất bằng phẳng, rồi trồng cây như cũ”. ông mất ngày 20-8 năm Canh tý (5-9-1300), ai ai cũng tiếc thương. Triều đình cho lập đền thờ ở Kiếp Bạc, huyện Chí Linh, Hải Dương. Dân chúng tôn kính gọi: Hưng Đạo Vương, Hưng Đạo Đại Vương, Đức Thánh Trần, đây là điều đặc biệt trong lịch sử. Ngày lễ chính thức tổ chức vào ngày ông mất là ngày 20 tháng 8 ÂL.
 
Hưng Đạo Vương là danh nhân quân sự thế giới; vào năm 1984 tại London (Anh quốc) trong cuộc họp bình chọn 10 người tài xuất sắc (top ten) bầu chọn 10 nhà quân sự lỗi lạc và 10 nhà bác học giỏi nhất thế giới, Hoàng gia Anh làm chủ trì. Hưng Đạo Vương được chọn là một trong 10 vị Đại Nguyên soái quân sự lỗi lạc nhất thế giới.
 
*- Thiết nghĩ: Quân Mông Cổ, đầu thế kỷ thứ XIII, Hồi quốc là đế quốc gồm Ba Tư, Tiểu Á Tế Á, bề ngang kéo dài từ Ấn Độ đến Bagdad; quân Mông Cổ đánh phá 40 vạn binh của Mohamed tan tành và kinh đô cũng thành tro bụi. Tháng 12-1237 tới tháng 5-1238, Mông Cổ chiếm 4/5 nước Nga. Các quốc gia Tây Âu lo sợ. Giáo hoàng Innocent IV và vua Louis nước Pháp cử người cầu hòa với Mông Cổ. Tại Á Đông, vào năm 1226, Tây Hạ đầu hàng và bị sáp nhập vào đế quốc Mông Cổ. Nhưng tại Việt Nam, vào năm 1285, Trần Hưng Đạo đã thống lãnh 20 vạn quân Đại Việt đánh tan tác 50 vạn quân Nguyên xâm lược nước ta.
 
 
II. QUAN CÔNG -  QUAN VÂN TRƯỜNG
 
 
So sánh, Hưng Đạo Vương và ông Quan Công (Quan Vân Trường) của Trung Hoa. Hưng Đạo Vương không có sai lầm, mà Quan Công có nhiều lầm lỗi, như:
 
1- Thiếu lập trường, thả giặc nơi Hoa Dung: Sau khi Tào Tháo thua trận Xích Bích, tơi tả chạy trốn, gặp Quan Công phục binh. Trong Tam Quốc Chí, tác giả La Quán Trung, dịch giả Phan Kế Bính, viết: “Vân Trường xưa nay vẫn là người trọng nghĩa, nhớ đến ân tình Tào Tháo khi xưa đãi mình rất hậu và việc qua năm ải, chém sáu tướng, không khỏi động lòng...” Viết tiếp: “Quan Công quay ngựa lại, bảo quân sĩ rằng: Bốn mặt dãn cả ra, Tháo thấy vậy cùng các tướng sĩ kéo ồ cả đi”. Quan Công tự ý thả giặc, nói sao với Lưu Bị vừa là chúa công vừa là anh em kết nghĩa, nói sao với quân dân Hán hay quân dân Tây Thục?!
 
 
2- Nói năng lỗ mãng, tự cao: Gia Cát Cẩn (anh ruột Khổng Minh) vâng lệnh chúa Đông Ngô, đến kết thân với Kinh Châu, Cẩn thưa: “Tôi đến đây, có ý kết hiếu hai nhà, chúa công tôi (Ngô hầu) có con trai thông minh, nghe tướng quân có cô con gái, đến cầu hôn, để hai nhà kết hiếu với nhau, hiệp lực lại đánh Tào đó là việc vui, xin tướng quân xét cho”. Con của chúa Đông Ngô, muốn cầu hôn với con của một tướng quân; mà Quan Công, trả lời lỗ mãng: “Con gái ta ví như loài hổ, lại thèm gả cho loài chó à!”. Vừa vụng về vừa lỗ mãng, Ngô hầu nghe thuật lại, nổi giận đùng đùng, cử binh đánh Kinh Châu. Do đó Quan Công mới bị mất Kinh Châu và bị quân Ngô giết chết, từ đó Lưu Bị bắt đầu bị thất bại và đưa đến mất nước.
 
3- Chết rồi còn mê: Sau khi Quan Công, bị Đông Ngô bắt và giết. Nhà sư Phổ Tĩnh, đang ngồi trong am tụng kinh, bỗng nghe tiếng gọi to trên không: “Đem trả đầu ta đây!” Phổ Tĩnh trông lên thấy Quan Công, nhà sư hỏi: “Vân Trường ở đâu?”. Linh hồn Quan Công, xuống trước am đứng chấp tay. Phổ Tĩnh nói: “Nhân trước quả sau, nay tướng quân bị Lã Mông làm hại, kêu rằng: Đem trả đầu ta đây!. Thế thì đầu Nhan Lương, Văn Sú và đầu 6 tướng ở 5 ải, và bao nhiêu đầu nữa thì đòi vào đâu?” Quan Công tỉnh ra, lạy tạ rồi biến mất

4- Nghe tin Mã Siêu vốn nổi danh võ nghệ cao cường mới về hàng Lưu Bị, ông ta đòi rời Kinh Châu nơi yếu địa ông ta đang lĩnh trọng trách trấn giữ để vào Thục đọ tài cao thấp; Gia-cát Lượng phải dùng lời phỉnh ông ta mới thôi. Ông ta không chịu để Hoàng Trung cùng hàng “ngũ hổ tướng” với mình, dẫu xếp ở cuối, bởi coi ông này chỉ là “tên lính già” (thực ra Hoàng cũng là danh tướng từng đấu ngang ngửa với ông ta, và Lưu Bị phải đích thân chiêu hàng mới được), không là anh em hoặc thân hữu chí cốt như Trương Phi, Triệu Vân, cũng không dòng dõi nhà tướng như Mã Siêu (trong khi ông ta cùng Trương, Triệu chẳng dòng dõi gì cho lắm); sau phải phủ dụ ông ta mới chịu (Rõ ràng chẳng phải lúc nào cũng “ngạo người trên mà không thèm khinh người dưới” như có người đã cố đề cao!).

Quan Vũ nhận Quan Bình làm con nuôi thì chẳng sao, đến khi Lưu Bị nhận Lưu Phong làm con nuôi lại không bằng lòng. Vì chuyện này, về sau khi ông ta lâm nguy cầu cứu Lưu Phong, Phong đã toan đi ngay nhưng vì có người dèm rằng “ông ta có coi ông là cháu đâu” bèn thôi

Sự thật Quan Công được thờ là có lòng trung tín. Nhà Thanh cai trị nước Tàu, nhiều người muốn phù Minh diệt Thanh, nhà Thanh phải tương kế tựu kế, thổi phồng những chuyện huyền hoặc của Quan Công, để biến từ những cuộc họp nơi Quan Công miếu vì chính trị, thành hội họp để cúng kính vì mê tín.
 
. Suy gẫm Đức Thánh Trần đều hơn hẳn Quan Công về tài và đức. Người Tàu thờ ông Quan Công là quyền của họ. Nhưng dân VN phải thờ Đức Hưng Đạo mới đúng ! Giả sử Đức Thánh Trần và ông Quan Công đều hiển thánh, thì ai sẽ thương và lo cho dân Việt Nam hơn???
 
Chuyện kết nghĩa vườn đào: Để phân định thứ bậc, ba người kéo nhau đến trước một cây cao to, giao hẹn lấy mức nhảy cao thấp làm căn cứ. Trương Phi nhảy phóc lên cành cao nhất; Qua n Vũ nhảy lên được cành lưng chừng; Lưu Bị vì bụng to nên đành đứng ôm gốc cây. Thế là Trương làm anh cả, Lưu làm em út. Chợt một ông già đi đến bảo: “Này, các vị! Theo như lão biết thì xưa nay việc gì cũng lấy gốc làm đầu, chẳng ai lấy ngọn đâu”. Do vậy, thứ bậc được đảo ngược

Theo Phong Tục Việt Nam:  
Tuổi  nam Canh Dần, Canh Thìn, Canh Ngọ, Canh Tý.  và Tân  sửu , tân mão , tân tỵ , tân dậu,  tân hợi: Thờ TRẦN HƯNG ĐẠO Độ Mạng  . Nư thơ Chua Tiên Nương Nương đô mang.
Chứ không như các sách khác nói là QUAN BÌNH đỘ mạng  la khong đung vì 
QUAN BÌNH là con của QUAN ĐỊNH khi 18 tuổi được QUAN VŨ nhận đị theo được coi là con nuôi của QUAN  VŨ (QUAN CÔNG) năm 219 tử hoàng đánh chiếm QUAN BÌNH  thất bại khiến QUAN VŨ phải kéo về kinh châu nhưng kinh châu cũng mất nên ở lại Mạch Thành và bị truy sát  nên QUAN BÌNH và QUAN VŨ  trên đường chạy về TÂY XUYÊN bị QUÂN NGÔ  bắt  và hành hình  lúc  này Quan Bình mới 29 tuổi. Vậy trong sự nghiệm QUAN BÌNH chưa làm được gì lớn và còn chết yểu khi tuổi chưa tới 30 ( chưa được hưởng dương)
Như vậy yểu mệnh không có tài cán gì thì làm sao độ mệnh phổ độ người khác được.
Vì chúng ta là người  Việt nên thờ theo phong tục Việt không nên làm theo các sách vô tông của trung quốc phát hành qua  đảo lộn trắng đen và  hiểu nhầm, rồi thờ cúng các vị  độ mệnh sai trái như vậy  là không tốt . 
Người  Trung Quốc luôn quan niệm chỉ lấy vi tướng bất tài ma còn yểu mệnh  ghi lên sách vở lam Thần Độ Mạng , thi người dân Việt Nam sẻ tin và tôn thờ như  vị tướng có công  với đất nước . Đây là âm mưu thâm độc của Trung Quốc từ xa xưa tới giờ  , sao ma người Dân Việt mình cứ tin và làm theo là sao nhỉ  . Đó là điều sĩ nhục , người dân Việt Nam nên thờ  vị tướng tài dân tộc .không nên thờ  kẻ địch yểu mệnh bất tài .